Liên kết website
Thống kê truy cập
Hôm nay : 2
Tháng 12 : 96
Năm 2022 : 8.337
A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Trường THCS An Ninh thực hiện chuyên đề môn KHTN 7 cấp Huyện

Thực hiện Hướng dẫn Số 316/PGDĐT-THCS ngày 25/8/2022 của cấp THCS huyện Quỳnh Phụ, Trường THCS An Ninh thực hiện chuyên đề môn KHTN lớp 7 vào ngày 11/10/2022. 

 CHUYÊN ĐỀ:

 

VẬN DỤNG LINH HOẠT CÁC KỸ THUẬT DẠY HỌC VÀO GIẢNG DẠY PHÂN MÔN HÓA HỌC - BỘ MÔN KHOA HỌC TỰ NHIÊN LỚP 7

1. Phân tích thực trạng

* Về thuận lợi:

- Tiếp thu kinh nghiệm từ nhiều nước dạy học môn KHTN. Hơn nữa, dạy học tích hợp không phải là vấn đề xa lạ trong GDPT nước ta, một số giáo viên đã được tập huấn và dạy học một số chủ đề tích hợp trong chương trình hiện hành. Nội dung GD và phương án tích hợp trong chương trình môn KHTN về cơ bản không làm thay đổi lớn số lượng giáo viên hiện hành.

- Chương trình môn học đã được biên soạn theo yêu cầu phù hợp với tình hình thực tế Việt Nam, có học hỏi và vận dụng kinh nghiệm dạy học quốc tế

- Được sự quan tâm của Đảng ủy, lãnh đạo PGD về công tác giáo dục của nhà trường. Giáo viên nhiệt tình trong công tác, mạnh dạn đổi mới phương pháp giảng dạy, kiểm tra đánh giá.

- Nhà trường luôn tạo điều kiện cho giáo viên đi học hỏi kinh nghiệm ở các trường bạn trao đổi chuyên môn và các cuộc tập huấn của cấp trên.

- Linh hoạt cho tất cả các đối tượng học sinh, bất kể nền tảng kiến ​​thức hoặc trình độ hiểu biết.

- Loại bỏ sự bất bình đẳng trong quá trình học tập, học sinh nắm chắc “chất lượng kiến thức”.

- Kéo gần mối quan hệ cô - trò, thầy - trò

- Một số giáo viên được đào tạo 2 môn như Hóa – Sinh…

- Về giáo viên: Giáo viên có đủ sách giáo viên để tham khảo, có nhiều trang nhóm trên mạng để học hỏi, trao dồi kinh nghiệm.

- Về sách giáo khoa: Học sinh có đủ sách giáo khoa, giáo viên có phần dễ dạy hơn vì các bài được chia theo chủ đề.

- Về học sinh: Hứng thú tham gia các hoạt động, khởi động trước tiết học, chơi các trò chơi, xem nhiều video tranh ảnh thông qua các phần mềm và tivi.

- Học sinh được chuẩn bị các kỹ năng cần thiết để thành công khi trưởng thành.

- Học sinh học các kĩ năng để học tập tốt hơn và chịu trách nhiệm về quá trình học tập của mình.

- Học sinh được khuyến khích để phát triển mọi mặt, phát hiện và phát triển thế mạnh của bản thân.

- Học sinh được thỏa sức sáng tạo, từ đó khai thác hết những tiềm lực của học sinh.

- Về cơ sở vật chất, đồ dùng: Đối với lớp 6 có tivi hỗ trợ giảng dạy trong tương tác

trình chiếu giúp bài học thêm sinh động.

          Chương trình GDPT tổng thể được xây dựng trên cơ sở khoa học và phát triển chương trình giáo dục, tiếp cận các xu thế hiện đại và tiến bộ, phù hợp với điều kiện thực tiễn của Việt Nam, giúp học sinh có được những kĩ năng và cách nhìn đúng đắn, toàn diện. Xây dựng những thói quen nề nếp cần thiết trong học tập và sinh hoạt trở thành người học sinh tích cực, tự tin có ý thức lựa chọn nghề nghiệm và học tập suốt đời, đáp ứng nhu cầu phát triển của cá nhân và yêu cầu của sự nghiệp xây dựng, bảo vệ đất nước trong thời đại toàn cầu hóa và công nghiệp mới.

* Về khó khăn:

- Về giáo viên: Trong dạy học môn KHTN là đội ngũ giáo viên được đào tạo và đã quen với cách dạy riêng rẽ từng môn học, cũng như phương pháp dạy chủ yếu theo tiếp cận nội dung. Nhìn chung cơ sở vật chất của nhiều nhà trường phổ thông còn hạn chế; hạn chế trong đổi mới phương pháp dạy học. Hình thức quản lí nhà trường, hoạt động chuyên môn của giáo viên cũng đã quen với quản lí tách biệt 3 môn Vật lý, Hóa học, Sinh học.

Do vậy, cần tập trung thay đổi nhận thức của giáo viên, cán bộ quản lí về ý nghĩa của dạy học môn KHTN, vận dụng một số kĩ thuật và phương pháp dạy học để bảo đảm yêu cầu của dạy học môn KHTN.

- Khó khăn trong cách tiếp cận vấn đề:

Hiện nay ở nhiều trường thuộc nhiều cấp học, đội ngũ thầy, cô giáo lớn tuổi chiếm tỷ lệ tương đối cao. Ở họ, ý thức đổi mới chưa nhiều bởi vì xưa nay cách dạy truyền thống theo hướng truyền thụ kiến thức vẫn mang lại hiệu quả tích cực, học sinh vẫn hứng thú và làm bài đạt điểm cao. Việc nhận thức như vậy không chỉ ảnh hưởng đến các thầy, cô mà còn gián tiếp gây ra tác động đối với các thầy, cô khác mà còn đối với cả học sinh.

Ở nhiều thầy, cô giáo bậc phổ thông do ảnh hưởng cách đào tạo trước đây ở các trường đại học đó là phương pháp lấy người thầy làm trung tâm, học sinh là người nhận kiến thức thụ động, áp đặt. Vì thế, để nhanh chóng thay đổi họ theo chiều hướng mới cần có thời gian nhất định.

- Nhiều giáo viên chỉ thực hiện đổi mới theo hình thức, mang tính chất đối phó. Ðiều này chỉ được khắc phục khi có giáo viên dự giờ, thao giảng hoặc tham gia các hội thi.

- Chương trình học ở các cấp tuy có giảm tải, nhưng vẫn còn "khá nặng" đối với nhiều giáo viên và học sinh.

- Bên cạnh đó, trong nhiều môn học, việc phải "lồng ghép" quá nhiều nội dung như môi trường, sử dụng năng lượng tiết kiệm hiệu quả, giáo dục pháp luật... trở thành gánh nặng và tác động không nhỏ đến việc đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tiếp cận năng lực người học

- Các giáo viên dạy môn tích hợp KHTN gặp lúng túng trong việc tổ chức các hoạt động dạy học. Họ rất cần được tập huấn, bồi dưỡng để đảm bảo thực hiện tốt chương trình giáo dục phổ thông mới đề ra.

- Trong chương trình GDPT mới môn KHTN có tổng số tiết thay đổi so với chương trình giáo dục phổ thông cũ (cụ thể 140 tiết/ 35 tuần), nhiều kiến thức lớp 8 đưa xuống lớp 7, nhiều bài ở chương trình cũ gộp thành một bài ở chương tình mới.

- Việc dạy học tích hợp có khác nhiều so với chương trình giáo dục phổ thông hiện hành. Ở đây, một bài có tới 2, 3 nội dung tích hợp, cũng gây khó khăn trong việc truyền thụ kiến thức. Giáo viên đang lo lắng trong việc có đảm bảo thời gian không, dạy theo chuyên đề hay soạn giảng theo tiết như hiện nay.

- Tuy có những giáo viên được đào tạo 2 môn nhưng cũng có những giáo viên được đào tạo một môn hoặc có các môn khác. Do đó cũng có nhiều khó khăn trong việc dạy học theo chương trình giáo dục phổ thông mới.

- Giáo viên lo ngại khi tham gia tập huấn không nhiều khó tiếp thu hết những nội dung dạy học tích hợp để  truyền lại cho học sinh.

- Riêng đối với môn vật lý, trong phương pháp dạy học mới, để học sinh  nắm bắt tốt cần cho học sinh tham gia thực tế, nhưng ở địa phương và tình hình dịch bệnh không cho phép nên cũng còn hạn chế trong quá trình dạy học.

- Khi cho học sinh tìm tài liệu báo cáo thì gặp khó khăn do chưa đủ sách tài liệu, lên internet, một số học sinh lo chơi game, lướt web nên cha mẹ không cho sử dụng.

- Chương trình mới có nhiều bài đòi hỏi thí nghiệm, cơ sở vật chất của nhà trường chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu này, cần phải tận dụng dụng cụ thí nghiệm của chương trình hiện hành.

- Việc soạn giảng cũng gặp nhiều khó khăn khi không nói rõ soạn theo chủ đề hay chia theo tiết học.

* Thực trạng khi dạy môn KHTN 7 phân môn Hóa Học:

- Các nội dung nhận thức của CBQL, GV về vận dụng linh hoạt các kĩ thuật dạy học vào phân môn Hóa học - KHTN 7 chủ yếu được đánh giá ở các mức hoàn toàn đồng ý và đồng ý một phần.

- Vận dụng linh hoạt các kĩ thuật dạy học vào phân môn Hóa học - KHTN 7 được đánh giá cao là các kĩ thuật giúp hình thành và phát triển nhân cách học sinh, trải nghiệm, luyện tập kiến thức đã được học ở các môn học, phát huy tính chủ động, tính tích cực của HS, cụ thể là: Vận dụng linh hoạt các kĩ thuật dạy học vào phân môn Hóa học - KHTN 7 góp phần hình thành và phát triển nhân cách HS, là điều kiện quan trọng để trải nghiệm, luyện tập kiến thức đã được học ở các môn học

- Còn một lượng nhỏ giáo viên vẫn coi nhẹ việc vận dụng linh hoạt các kĩ thuật dạy học vào phân môn Hóa học - KHTN 7. Do vậy nhà quản lý cần phải tiếp tục xây dựng kế hoạch tuyền truyền, bồi dưỡng để nâng cao nhận thức cho đội ngũ giáo viên.

- Có sự khác biệt giữa nhận thức của giáo viên và cán bộ quản lý về vận dụng linh hoạt các kĩ thuật dạy học vào phân môn Hóa học - KHTN 7. Ở một số nội dung, CBQL đánh giá cao hơn giáo viên (Vận dụng linh hoạt các kĩ thuật dạy học vào phân môn Hóa học - KHTN 7 góp phần hình thành và phát triển nhân cách HS; DH tích hợp các môn KHTN là điều kiện quan trọng để trải nghiệm, luyện tập kiến thức đã được học ở các môn học; Vận dụng linh hoạt các kĩ thuật dạy học vào phân môn Hóa học - KHTN 7 phát huy tính chủ động, tính tích cực của HS). Ngược lại, có nội dung như vận dụng linh hoạt các kĩ thuật dạy học vào phân môn Hóa học - KHTN 7 hình thành ở học sinh năng lực tìm kiếm, quản lí, tổ chức sử dụng kiến thức để giải quyết vấn đề trong tình huống có ý nghĩa; Vận dụng linh hoạt các kĩ thuật dạy học vào phân môn Hóa học - KHTN 7 cho phép rút ngắn được thời gian, tăng cường khối lượng và chất lượng thông tin của nội dung giáo dục được giáo viên đánh giá cao hơn so với cán bộ quản lý. Tuy nhiên, sự khác biệt này không có sự chênh lệch quá lớn.

- Nhận thức của HS vận dụng linh hoạt các kĩ thuật dạy học vào phân môn Hóa học - KHTN 7

+ Một số HS được hỏi đã nhận thức đúng tác dụng của vận dụng linh hoạt các kĩ thuật dạy học vào phân môn Hóa học - KHTN 7.

+ Số ít HS được hỏi nói rằng không thích học những bài học có nội dung tích hợp và vận dụng linh hoạt các kĩ thuật dạy học vào phân môn Hóa học - KHTN 7.

Trong số những em thích các bài học có nội dung vận dụng linh hoạt các kĩ thuật dạy học vào phân môn Hóa học - KHTN 7 tích hợp thì có em thích tỉm hiểu về vấn đề bảo vệ môi trường, tiết kiệm năng lượng được tích hợp trong các môn như: Công nghệ, Vật lý,…

Cũng qua phỏng vấn, chúng tôi nhận thấy: Một số học sinh được hỏi rất thích học bài học có tích hợp kiến thức của nhiều môn học và đây cũng là những em tích cực chủ động, hứng thú với các hoạt động vận dụng linh hoạt các kĩ thuật dạy học vào phân môn Hóa học - KHTN 7

- 100% CBQL, GV ở các trường THCS An Ninh có nhận thức đúng về vai trò, tầm quan trọng của vận dụng linh hoạt các kĩ thuật dạy học vào phân môn Hóa học - KHTN 7, song nhận thức của đội ngũ GV thì chưa thật đầy đủ và toàn diện, điều đó ảnh hưởng đến nhận thức của HS.

2. Một số kĩ thuật dạy học tích cực

2.1 Kĩ thuật dạy học là gì?

Kĩ thuật dạy học là những biện pháp, cách thức hành động của giáo viên trong các tình huống cụ thể nhằm thực hiện và điều khiển quá trình dạy học.

2.2  Một số kĩ thuật dạy học tích cực phát triển phẩm chất và năng lực học sinh THCS trong môn KHTN 7

- Kĩ thuật động não - Công não

Động não là kĩ thuật giúp cho HS trong một thời gian ngắn nảy sinh được nhiều ý tưởng mới mẻ, độc đáo về một chủ đề nào đó. Các thành viên được cổ vũ tham gia một cách tích cực, không hạn chế các ý tưởng ( nhằm tạo ra cơn lốc các ý tưởng). 

Động não thường được:

Dùng trong giai đoạn giới thiệu vào một chủ đề

Sử dụng để tìm các phương án giải quyết vấn đề

Dùng để thu thập các khả năng lựa chọn và suy nghĩ khác nhau

Động não có thể tiến hành theo các bước sau :

Giáo viên nêu câu hỏi hoặc vấn đề (có nhiều cách trả lời) cần được tìm hiểu trước cả lớp hoặc trước nhóm.

Khích lệ HS phát biểu và đóng góp ý kiến càng nhiều càng tốt.

Liệt kê tất cả mọi ý kiến lên bảng hoặc giấy to không loại trừ một ý kiến nào, trừ       

trường hợp trùng lặp.

Phân loại các ý kiến.

Làm sáng tỏ những ý kiến chưa rõ ràng 

Tổng hợp ý kiến của HS và rút ra kết luận.

- Kĩ thuật các mảnh ghép

Kỹ thuật Các mảnh ghép là hình thức học tập kết hợp giữa cá nhân với nhóm và các nhóm với nhau nhằm:

Cùng nhau giải quyết một nhiệm vụ có nhiều chủ đề

Khuyến khích sự tham gia tích cực của học sinh

Nâng cao vai trò cá nhân trong quá trình hợp tác (Mỗi cá nhân không chỉ hoàn thành nhiệm vụ ở vòng 1 mà còn phải truyền đạt lại kết quả và hoàn thành nhiệm vụ ở vòng 2)

Dụng cụ: Chuẩn bị giấy bút cho các thành viên.

Thực hiện:

Phân học sinh thành từng nhóm có nhóm trưởng

Giáo viên giao nhiệm vụ cho từng nhóm.

Các nhóm cùng thảo luận và rút ra kết quả, yêu cầu từng thành viên trong nhóm đều có khả năng trình bày kết quả.

Mỗi nhóm sẽ tách ra và hình thành nhóm mới theo sơ đồ.

Lần lượt từng thành viên trình bày kết quả thảo luận.

Các chủ đề đưa ra thảo luận cần chọn lọc đảm bảo có tính độc lập với nhau.

Trước khi tách nhóm phải đảm bảo các thành viên đều có khả năng trình bày kết quả thảo luận ở bước thảo luận đầu tiên.

Phát triển tinh thần làm việc theo nhóm.

Phát huy trách nhiệm của từng cá nhân.

Giúp học sinh phát huy hiểu biết và giải quyết những hiểu biết lệch lạc.

Giúp đào sâu kiến thức trong các lĩnh vực.

Kết quả phụ thuộc vào quá trình thảo luận ở vòng 1, nếu vòng thảo luận này không có chất lượng thì cả hoạt động sẽ không có hiệu quả.

Số lượng thành viên trong nhóm rất dễ không đồng đều.

Không thể sử dụng kỹ thuật này cho các nội dung thảo luận có mối quan hệ ràng buộc nhân quả với nhau.

- Kĩ thuật khăn trải bàn

Kỹ thuật khăn trải bàn cũng là phương pháp dạy học tích cực tổ chức hoạt động mang tính kết hợp giữa hoạt động cá nhân với hoạt động nhóm nhằm:

Thúc đẩy sự tham gia tích cực của học sinh

Tăng cường tính độc lập, trách nhiệm của cá nhân học sinh

Phát triển mô hình có sự tương tác giữa học sinh với nhau

Dụng cụ: Bút và giấy khổ lớn cho mỗi nhóm.

Thực hiện:

Giáo viên chia nhóm, phân công nhóm trưởng, thư ký và giao dụng cụ.

Giáo viên đưa ra vấn đề cho ccacs nhòm, từng thành viên viết ý kiến của mình vào góc của tờ giấy.

Nhóm trưởng và thư ký sẽ tổng hợp các ý kiến và lựa chọn những ý kiến quan trọng viết vào giữa tờ giấy.

Lưu ý: Mỗi thành viên làm việc tại góc riêng của mình.

Ưu điểm: Tăng cường tính độc lập và trách nhiệm của người học.

Hạn chế: Tốn kém chi phí và khó lưu trữ, sửa chữa kết quả.

- Kĩ thuật “Lược đồ Tư duy” 

Phương pháp dạy học tích cực theo kỹ thuật lược đồ tư duy do Tony Buzan đề xuất từ cơ sở sinh lý thần kinh về quá trình tư duy. Kỹ thuật này là một hình thức ghi chép sử dụng màu sắc và hình ảnh để mở rộng và đào sâu các ý tưởng.

Dụng cụ: Bảng lớn hoặc giấy khổ lớn, bút nhiều màu, các phần mềm vẽ sơ đồ tư duy.

Thực hiện:

Giáo viên chia nhóm và giao chủ đề cho các nhóm

Mỗi thành viên lần lượt kết nối ý tưởng trung tâm với ý tưởng của cá nhân để mô tả ý tưởng thông qua hình ảnh, biểu tượng hoặc một vài ký tự ngắn gọn.

Giáo viên để học sinh tự lựa chọn sơ đồ: Sơ đồ thứ bậc, sơ đồ mạng, sơ đồ chuỗi

Giáo viên đưa câu hỏi gợi ý để các nhóm lập sơ đồ.

Khuyến khích học sinh sử dụng biểu tượng, ký hiệu, hình ảnh và văn bản tóm tắt.

Kỹ thuật sơ đồ tư duy giúp học sinh nắm được quá trình tổ chức thông tin, ý tưởng cũng như giải thích và kết nối thông tin với cách hiểu biết của mình.

Thích hợp với các nội dung ôn tập, liên kết lý thuyết với thực tế.

Phù hợp tâm lý học sinh, đơn giản, dễ hiểu.

Kỹ thuật sử dụng sơ đồ giấy khó lưu trữ, thay đổi, chỉnh sửa, tốn kém chi phí.

Sơ đồ do giáo viên xây dựng, sau đó giảng giải cho học sinh khiến học sinh khó nhớ bài hơn học sinh tự làm.

- Kỹ thuật KWL-KWLH

Giới thiệu:

KWL do Donna Ogle giới thiệu năm 1986, vốn là một hình thức tổ chức dạy học hoạt

động đọc hiểu. Học sinh bắt đầu bằng việc động não tất cả những gì các em đã biết về chủ đề bài đọc. Thông tin này sẽ được ghi nhận vào cột K của biểu đồ. Sau đó học sinh nêu lên danh sách các câu hỏi về những điều các em muốn biết thêm trong chủ đề này. Những câu hỏi đó sẽ được ghi nhận vào cột W của biểu đồ. Trong quá trình đọc hoặc sau khi đọc xong, các em sẽ tự trả lời cho các câu hỏi ở cột W, các thông tin này sẽ được ghi nhận vào cột L.

Từ biểu đồ KWL, Ogle bổ sung thêm cột H ở sau cùng, với nội dung khuyến khích học sinh định hướng nghiên cứu. Sau khi học sinh đã hoàn tất nội dung ở cột L, các em có thể muốn tìm hiểu thêm về một thông tin. Các em sẽ nêu biện pháp để tìm thông tin mở rộng. Những biện pháp này sẽ được ghi nhận ở cột H.

Dụng cụ:

Bảng KWL (KWLH) dành cho học sinh.

Bảng KWL (KWLH) dành cho giáo viên.

Thực hiện:

Chọn bài đọc - Phương pháp này đặc biệt có hiệu quả với các bài đọc mang ý nghĩa gợi mở, tìm hiểu, giải thích.

Tạo bảng KWL - Giáo viên vẽ một bảng lên bảng, ngoài ra, mỗi học sinh cũng có một mẫu bảng của các em. Có thể sử dụng mẫu sau.

Đề nghị học sinh động não nhanh và nêu ra các từ, cụm từ có liên quan đến chủ đề. Cả giáo viên và học sinh cùng ghi nhận hoạt động này vào cột K. Hoạt động này kết thúc khi học sinh đã nêu ra tất cả các ý tưởng. Tổ chức cho học sinh thảo luận về những gì các em đã ghi nhận.

Hỏi học sinh xem các em muốn biết thêm điều gì về chủ đề. Cả giáo viên và học sinh ghi nhận câu hỏi vào cột W. Hoạt động này kết thúc khi học sinh đã nêu ra tất cả các ý tưởng. Nếu học sinh trả lời bằng một câu phát biểu bình thường, hãy biến nó thành câu hỏi trước khi ghi nhận vào cột W.

Yêu cầu học sinh đọc và tự điền câu trả lời mà các em tìm được vào cột L. Trong quá trình đọc, học sinh cũng đồng thời tìm ra câu trả lời của các em và ghi nhận vào cột W.

Học sinh có thể điền vào cột L trong khi đọc hoặc sau khi đã đọc xong.

Lưu ý:

Chuẩn bị những câu hỏi để giúp học sinh động não. Đôi khi để khởi động, học sinh cần nhiều hơn là chỉ đơn giản nói với các em : “Hãy nói những gì các em đã biết về…”

Khuyến khích học sinh giải thích. Điều này rất quan trọng vì đôi khi những điều các em nêu ra có thể là mơ hồ hoặc không bình thường.

Hỏi những câu hỏi tiếp nối và gợi mở. Nếu chỉ hỏi các em : “Các em muốn biết thêm điều gì về chủ đề này?” - đôi khi học sinh trả lời đơn giản “không biết”, vì các em chưa có ý tưởng.

Chuẩn bị sẵn một số câu hỏi của riêng bạn để bổ sung vào cột W. Có thể bạn mong muốn học sinh tập trung vào những ý tưởng nào đó, trong khi các câu hỏi của học sinh lại không mấy liên quan đến ý tưởng chủ đạo của bài đọc. Chú ý là không được thêm quá nhiều câu hỏi của bạn. Thành phần chính trong cột W vẫn là những câu hỏi của học sinh.

Ngoài việc bổ sung câu trả lời, khuyến khích học sinh ghi vào cột L những điều các em cảm thấy thích. Để phân biệt, có thể đề nghị các em đánh dấu những ý tưởng của các em.

Khuyến khích học sinh nghiên cứu thêm về những câu hỏi mà các em đã nêu ở cột W nhưng chưa tìm được câu trả lời từ bài đọc.

Ưu điểm:

Tạo hứng thú học tập cho học sinh, khi những điều các em cần học có liên quan trực tiếp đến nhu cầu về kiến thức của các em.

Giúp học sinh dần dần hình thành khả năng tự định hướng học tập, nắm được cách học không chỉ cho môn đọc hiểu mà cho các môn học khác.

Giúp giáo viên và học sinh tự đánh giá kết quả học tập, định hướng cho các hoạt động

học tập kế tiếp.

Hạn chế:

Sơ đồ cần phải được lưu trữ cẩn thận sau khi hoàn thành hai bước K và W, vì bước L có thể sẽ phải mất một thời gian dài mới có thể tiếp tục thực hiện.

- Kĩ thuật phòng tranh:

Kĩ thuật này có thể sử dụng cho hoạt động cá nhân hoặc hoạt động nhóm.

GV nêu câu hỏi hỏi vấn đề cho cả lớp hoặc cho các nhóm.

Mỗi thành viên (hoạt động cá nhân) hoặc các nhóm (hoạt động nhóm) phác hoạ những ý tưởng về cách giải quyết vấn đề trên một tờ bìa và dán lên tường xung quanh lớp học như một triển lãm tranh.

HS cả lớp đi xem “ triển lãm’’và có thể có ý kiến bình luận hoặc bổ sung.

Cuối cùng,  tất cả các ph­ương án giải quyết được tập hợp lại và tìm ph­ương  án tối ­ưu.

3. Một số lưu ý khi sử dụng kĩ thuật dạy học.

- Các giáo viên khi đưa hình ảnh, phim truyện lên cần chú ý đảm bảo hướng quan sát cho tất cả các học sinh.

- Mỗi dụng cụ, đồ dùng thí nghiệm, video sẽ có các kĩ thuât, phương pháp, cách thức quan sát thích hợp. Giáo viên phải tìm hiểu để đưa ra kĩ thuật phù hợp nhất.

- Tùy vào mỗi bài học sẽ cần các kĩ thuật dạy học khác nhau. Có những bài học cần video, bởi vậy, các giáo viên phải là người lựa chọn dụng cụ thích hợp nhằm giúp các em có hứng thú quan sát. Nếu mang tính chuyên nghiệp, các giáo viên phải xây dựng hệ thống dụng cụ cho kĩ thuật dạy học theo từng bài học.

- Luôn tìm cách phát huy tính tích cực của học sinh với các kĩ thuật dạy học phù hợp.

Double comman

 

Double comman

4. Một số hình ảnh của chuyên đề:

 


Tác giả: Trường THCS An Ninh
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
Video Clip
Văn bản mới